Trung tâm Giám sát, điều hành đô thị thông minh thành phố Huế
  • Giới thiệu
  • Tin tức
    • Tin hoạt động lãnh đạo
    • Tin chuyên ngành
    • Tin tức khác
  • Giải pháp & dịch vụ
    • Truyền thông
    • Tư vấn dự án
    • Kiểm thử phần mềm
    • Số hoá và biên tập dữ liệu GIS
  • Tài liệu - Ứng dụng
Trung tâm Giám sát, điều hành đô thị thông minh thành phố Huế
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Tin tức
    • Tin hoạt động lãnh đạo
    • Tin chuyên ngành
    • Tin tức khác
  • Giải pháp & dịch vụ
    • Truyền thông
    • Tư vấn dự án
    • Kiểm thử phần mềm
    • Số hoá và biên tập dữ liệu GIS
  • Tài liệu - Ứng dụng
  1. Trang chủ
  2. Tin chuyên ngành
  3. Chi tiết
Aa

Tin chuyên ngành

Tiêu chuẩn kỹ thuật về ƯDCNTT trong CQNN: Tiêu chuẩn UDDI - Giao thức Mô tả, Tìm kiếm và Tích hợp tổng quát
Chủ Nhật, 05/10/2014 03:42
Tổng quan về UDDI: Tiêu chuẩn Universal Description, Discovery and Integration (UDDI) – Giao thức Mô tả, Tìm kiếm và Tích hợp tổng quát là một tiêu chuẩn ban đầu được phát triển và duy trì bởi tổ chức Tiêu chuẩn mở tiên tiến cho xã hội thông tin (Advancing open standards for the information society).
 
UDDI phiên bản đầu tiên (UDDI v1) được công bố vào năm 2000 với mục đích chính là tạo nền tảng cho các dịch vụ nghiệp vụ dựa trên Internet. UDDI phiên bản thứ hai (UDDI v2) được công bố vào năm 2001 để thống nhất đặc tả tiêu chuẩn này với các tiêu chuẩn liên quan đến dịch vụ Web và cung cấp sự phân loại dịch vụ linh hoạt. UDDI phiên bản thứ ba (UDDI v3) được công bố vào năm 2004 để hỗ trợ bảo đảm an toàn việc tương tác giữa việc triển khai công khai hay bí mật thành phần chủ yếu của cơ sở hạ tầng hướng dịch vụ.
 
UDDI mô tả một kho lưu trữ dịch vụ Web và các giao diện lập trình phục vụ việc xuất bản, thu hồi và quản lý thông tin về các dịch vụ được mô tả. Thực tế, bản thân UDDI cũng là một tập các dịch vụ Web. UDDI định nghĩa các dịch vụ hỗ trợ việc mô tả và tìm kiếm:
 
- Các doanh nghiệp, các tổ chức và các nhà cung cấp dịch vụ Web.
 
- Các dịch vụ Web sẵn có trên thị trường, và
 
- Các giao diện kỹ thuật có thể được sử dụng để truy cập và quản lý các dịch vụ
 
UDDI dựa trên một số tiêu chuẩn công nghiệp đã được xây dựng, bao gồm HTTP, XML, XML Schema, SOAP và WSDL.
 
Mô hình dữ liệu UDDI
 
Mô hình thông tin chủ yếu được sử dụng trong một kho lưu trữ UDDI được định nghĩa trong một số lược đồ XML (XML Schema). XML được lựa chọn bởi vì nó cung cấp một nền tảng trung lập về dữ liệu và cho phép các mối quan hệ phân cấp được mô tả một cách tự nhiên. XSD được lựa chọn bởi vì nó hỗ trợ nhiều kiểu dữ liệu và khả năng dễ dàng mô tả và kiểm tra thông tin dựa trên các mô hình thông tin được biểu diễn trong các lược đồ. Các XSD trong UDDI định nghĩa một số kiểu thông tin chủ yếu để cung cấp các loại thông tin cho người dùng các ứng dụng cần biết để sử dụng một dịch vụ Web cụ thể. Những yếu tố này hình thành nên một mô hình thông tin và khung tương tác cơ bản của các kho lưu trữ UDDI:
 
- Một mô tả chức năng nghiệp vụ của một dịch vụ (gọi là businessService)
 
- Thông tin về tổ chức cung cấp dịch vụ (gọi là businessEntity)
 
- Chi tiết kỹ thuật của dịch vụ (gọi là businessTemplate) bao gồm một tham chiếu đến giao diện lập trình của dịch vụ, và
 
- Các thuộc tính khác hay dữ liệu đặc tả như phân loại, vận chuyển, chữ ký số v.v (gọi là tModel).
 
Trong UDDI v2 và UDDI v3, bổ sung thêm một kiểu dữ liệu để củng cố kho lưu trữ:
 
- Quan hệ giữa các thực thể trong kho lưu trữ (publisherAssertion) và
 
- Đưa ra các yêu cầu để lưu trữ vết của các thực thể (subscription).
 
Trong một kho lưu trữ UDDI, mỗi cấu trúc dữ liệu chủ yếu được gán một định danh duy nhất theo một lược đồ chuẩn và định danh này được xem như là một khóa UDDI.
 
Xác định các nút, kho lưu trữ và kho lưu trữ liên kết UDDI
 
Đặc tả UDDI bao gồm định nghĩa mối quan hệ phân cấp giữa một thể hiện của một UDDI và những UDDI khác, về mặt kỹ thuật đó là ba phân lớp chính của các máy chủ UDDI:
 
- Một nút là một máy chủ UDDI hỗ trợ ít nhất một tập nhỏ nhất các chức năng được định nghĩa trong đặc tả. Nó có thể thực hiện một hay nhiều chức năng trên dữ liệu UDDI thông qua một hay nhiều tập API UDDI (Giao diện lập trình ứng dụng Application Programming Interface hay API)) và một nút là một thành phần của một kho lưu trữ UDDI. Một nút có thể truy cập và thao tác trên bản sao đầy đủ của dữ liệu UDDI được quản lý kho lưu trữ mà nút nằm trong đó. Thông thường, việc sao chép UDDI sẽ diễn ra giữa các nút UDDI nằm trên các hệ thống khác nhau để chỉ ra bản sao vật lý trên nút.
 
- Một kho lưu trữ được cấu thành từ một hay nhiều nút. Một kho lưu trữ thực hiện đầy đủ các chức năng được định nghĩa trong đặc tả. Các nút của một kho lưu trữ  quản lý tập trung một tập dữ liệu UDDI được định nghĩa trước. Điều này được hỗ trợ bởi việc sao chép UDDI giữa các nút trong kho lưu trữ nằm trên các hệ thống khác nhau.
 
- Kho lưu trữ liên kết được hình thành từ các kho lưu trữ UDDI có chia sẻ thông tin giữa chúng. Các kho lưu trữ liên kết chia sẻ một không gian tên dùng chung cho các khóa UDDI để xác định duy nhất các bản ghi dữ liệu.
 
Biểu diễn thông tin trong UDDI
 
Để dịch vụ Web có ý nghĩa, cần cung cấp thông tin khác bên cạnh đặc tả kỹ thuật của dịch vụ đó. Mục đích chủ yếu của UDDI là biểu diễn dữ liệu và dữ liệu đặc tả về các dịch vụ Web. Một kho lưu trữ UDDI sử dụng công khai hoặc bên trong tổ chức, cung cấp một cơ chế chuẩn để phân loại, đánh chỉ mục và quản lý dịch vụ Web để chúng có thể được tìm kiếm và sử dụng theo cơ chế sau:
 
- Tìm sự triển khai các dịch vụ Web mà dựa trên một định nghĩa giao diện trừu tượng chung.
 
- Tìm nhà cung cấp dịch vụ web được phân loại theo một chương trình phân loại đã biết hoặc theo một hệ thống nhận dạng.
 
- Xác định các giao thức an ninh và vận chuyển được hỗ trợ bởi một dịch vụ web nhất định.
 
- Thực hiện tìm kiếm các dịch vụ dựa trên một từ khóa chung.
 
- Lưu trữ thông tin kỹ thuật về một dịch vụ web và sau đó cập nhật thông tin tại thời điểm thực thi.
 
Biểu diễn doanh nghiệp và nhà cung cấp với businessEntity
 
Một cấu trúc dữ liệu cấp cao nhất trong UDDI là cấu trúc businessEntity, được sử dụng để biểu diễn cho các doanh nghiệp và các nhà cung cấp trong UDDI. Nó chứa thông tin mô tả về doanh nghiệp hoặc nhà cung cấp dịch vụ và về các dịch vụ nó cung cấp. Thông tin này sẽ bao gồm các thông tin như tên và mô tả trong nhiều ngôn ngữ, thông tin liên lạc và thông tin phân loại. Mô tả dịch vụ và thông tin kỹ thuật được thể hiện trong một businessEntity được chứa trong các cấu trúc businessService và bindingTemplate.
 
Cấu trúc businessEntity có thể được sử dụng để mô hình hóa không chỉ đơn giản là biểu diễn nghiệp vụ. Là thực thể thuộc cấp cao nhất, businessEntity có thể được sử dụng để mô hình hóa bất kỳ nhà cung cấp dịch vụ nào, chẳng hạn như một bộ phận, một ứng dụng hoặc thậm chí một máy chủ. Tùy thuộc vào bối cảnh của dữ liệu trong toàn bộ kho lưu trữ, các quyết định mô hình hóa thích hợp để biểu diễn cho nhà cung cấp dịch vụ khác nhau có thể khác nhau.
 
Biểu diễn các dịch vụ với businessService
 
Mỗi cấu trúc businessService biểu diễn cho một nhóm hợp lý các dịch vụ Web. Ở cấp độ dịch vụ, vẫn chưa có thông tin kỹ thuật được cung cấp về các dịch vụ; đúng hơn, cấu trúc này cho phép khả năng tổng hợp một tập các dịch vụ theo nội dung chung. Mỗi businessService là đơn vị lô gic con  của một businessEntity duy nhất. Mỗi businessService chứa thông tin mô tả: tên, thông tin mô tả và thông tin phân loại - phác thảo mục đích của từng dịch vụ web được tìm thấy bên trong nó. Ví dụ, một cấu trúc businessService có thể chứa một tập hợp các dịch vụ Web Đặt hàng (nộp hồ sơ, xác nhận và thông báo) được cung cấp bởi một doanh nghiệp.
 
Một tập các dịch vụ không nhất thiết phải gắn với một doanh nghiệp cho mỗi lần đăng ký, nhưng thay vì có thể liên kết với một nhà cung cấp dịch vụ, nó đưa ra một kịch bản mô hình hóa mà không dựa trên một khả năng nghiệp vụ.
 
Biểu diễn dịch vụ Web với bindingTemplate
 
Mỗi cấu trúc bindingTemplate biểu diễn cho một dịch vụ web. Ngược lại với các cấu trúc businessService và businessEntity, các cấu trúc được định hướng về thông tin trợ giúp về các nhà cung cấp và dịch vụ, một bindingTemplate cung cấp các thông tin kỹ thuật cần thiết cho các ứng dụng để ràng buộc và tương tác với các dịch vụ Web được mô tả. Nó phải có một điểm truy cập cho một dịch vụ nhất định và một cơ chế dẫn đến điểm truy cập đó.
 
Mỗi bindingTemplate là đơn vị con của một businessService duy nhất. Cấu trúc cao hơn bindingTemplate có thể được mô tả bằng dữ liệu đặc tả cho phép tìm kiếm của bindingTemplate đó bằng cách đưa ra một tập hợp các thông số và tiêu chuẩn.
 
Mô hình kỹ thuật (Technical Model - tModel)
 
Mô hình kỹ thuật hoặc tModel được sử dụng trong UDDI để biểu diễn các khái niệm hoặc cấu trúc duy nhất. Chúng cung cấp một cấu trúc cho phép tái sử dụng và do đó chuẩn hóa trong khung phần mềm. Mô hình thông tin UDDI được dựa trên khái niệm về đặc tả kỹ thuật được chia sẻ và sử dụng tModel để tạo ra hành vi này. Vì lý do này, tModel tồn tại bên ngoài các mối quan hệ cha-con giữa các cấu trúc businessEntity, businessService và bindingTemplate.
 
Mỗi đặc tả kỹ thuật riêng biệt, vận chuyển, giao thức hoặc không gian tên được biểu diễn bởi một tModel. Ví dụ về tModel cho phép khả năng liên thông của các dịch vụ Web bao gồm những thành phần dựa trên Ngôn ngữ mô tả dịch vụ Web (Web Service Description Language - WSDL), Định nghĩa lược đồ XML (XML Schema Definition - XSD) và các tài liệu khác chỉ ra nội dung và chỉ định thỏa thuận và hành vi, nghĩa là một giao diện mà một dịch vụ web có thể chọn để thực hiện theo. Để mô tả một dịch vụ web phù hợp với một tập hợp các thông số kỹ thuật, vận chuyển và các giao thức, tham chiếu để các tModel biểu diễn các khái niệm này được đặt trong bindingTemplate. Theo cách như vậy, các tModel có thể được tái sử dụng bởi nhiều bindingTemplate. Các bindingTemplate tham chiếu chính xác cùng một bộ các tModel giống nhau và cùng loại. Bằng cách này, các tModel có thể được sử dụng để thúc đẩy khả năng liên thông giữa các hệ thống phần mềm.
 
Điều quan trọng cần lưu ý là tài liệu kỹ thuật và các tài liệu hỗ trợ cần thiết để một nhà phát triển sử dụng các dịch vụ Web không được lưu trữ trong chính kho UDDI. Một UDDI tModel chỉ đơn giản chứa các địa chỉ mà những tài liệu có thể được tìm thấy. Tuy nhiên, một tModel có nhiều thứ hơn bên cạnh các địa chỉ; nó cũng lưu trữ dữ liệu đặc tả về tài liệu kỹ thuật và một khóa thực thể để xác định tModel.
 
Vì các tModel có thể biểu diễn cho bất kỳ khái niệm hoặc cấu trúc duy nhất, chúng có thể sử dụng cho những mục đích khác mục đích liên thông phần mềm được mô tả ở trên. Chúng cũng có thể được sử dụng để biểu diễn các khái niệm khác trong mô hình thông tin UDDI, cụ thể như khái niệm đặc tả liệu được tái sử dụng thông qua mô hình. Ví dụ, tModels được sử dụng cho các mục đích khác sau đây trong UDDI:
 
- Vận chuyển và định nghĩa các giao thức như HTTP và SMTP.
 
- Các tập giá trị bao gồm hệ thống định danh, hệ thống phân loại và không gian tên.
 
- Phân loại cấu trúc sử dụng nhiều tập giá trị được gọi là "nhóm phân loại".
 
- Định dạng địa chỉ bưu chính.
 
- Tìm kiếm nhận dạng được sử dụng để thay đổi hành vi của các API UDDI.
 
- Sử dụng loại các thuộc tính để xác định loại tài nguyên được tham chiếu bởi một định dạng tài nguyên thống nhất tham chiếu (URI, viết tắt của từ Uniform Resource Identifier).
 
Việc sử dụng các tModel là cần thiết để UDDI biểu diễn dữ liệu và dữ liệu đặc tả. Đặc tả UDDI định nghĩa một tập hợp các tModel phổ biến có thể được sử dụng để mô hình hóa thông tin trong UDDI theo luật. Nếu một khái niệm cần thiết để mô hình một kịch bản cụ thể không tồn tại trong một kho lưu trữ, người sử dụng nên giới thiệu khái niệm bằng cách lưu một tModel có chứa các URL về các tài liệu tổng quan có liên quan.
 
Phân loại các thực thể UDDI
 
Dữ liệu sẽ vô giá trị nếu nó bị thất lạc trong một đống các dữ liệu khác và không thể phân biệt hoặc tìm kiếm được. Nếu một khách hàng của UDDI không thể tìm thấy thông tin có hiệu quả trong một kho lưu trữ thì mục đích của UDDI được xem là không thành công. Việc cung cấp cấu trúc và các công cụ mô hình hóa để giải quyết vấn đề này là trọng tâm trong việc thiết kế của UDDI. Việc cụ thể hoá dữ liệu trong UDDI là vấn đề cốt lõi trong việc mô tả, tìm kiếm và tích hợp của UDDI. UDDI đạt được mục tiêu này bằng một số phương pháp:
 
- Đầu tiên, nó cho phép người dùng xác định nhiều nguyên tắc phân loại có thể được sử dụng trong UDDI. Theo cách như vậy, nhiều hệ thống phân loại có thể được đặt trên một thực thể UDDI duy nhất. Khả năng này cho phép các tổ chức mở rộng tập hợp các hệ thống kho lưu trữ UDDI hỗ trợ. Việc này không được gắn với một hệ thống duy nhất, mà có thể triển khai hệ thống phân loại khác nhau cùng một lúc.
 
- Thứ hai, UDDI cho phép các hệ thống phân loại đó được sử dụng trên tất cả các thực thể trong mô hình thông tin. Nó định nghĩa một phương thức thống nhất cho một nhà xuất bản để thêm bất kỳ số lượng phân loại này vào kho đăng ký của họ. Điều quan trọng là phân loại được sử dụng khi xuất bản dữ liệu vào một kho lưu trữ UDDI. Cho dù các mã số tiêu chuẩn được sử dụng hoặc một phân loại mới được tạo ra và phân tán, bắt buộc dữ liệu UDDI: businessEntity, businessService, bindingTemplate và tModel là các thuộc tính với dữ liệu đặc tả.
 
- Thứ ba, bộ các API truy vấn UDDI cung cấp khả năng tìm kiếm chính xác dựa trên các hệ thống phân loại khác nhau. Một loạt các truy vấn thực hiện các kết nối khác nhau trên các thực thể UDDI có thể được tạo ra, như vậy dữ liệu có thể được tìm kiếm và truy cập. Ngoài ra, các thông tin đăng ký như mã ngành, mã sản phẩm, mã địa lý và mã nhận dạng doanh nghiệp cho phép các dịch vụ tìm kiếm khác sử dụng thông tin phân loại này như là một yếu tố ban đầu để lập ra chỉ mục cung cấp giá trị gia tăng và phân loại.
 
Các hệ thống phân loại và xác định thực hiện cùng nhau, được gọi là "tập giá trị" trong UDDI. Tập giá trị có thể được "đánh dấu" hay "bỏ đánh dấu". Cả tập giá trị đánh dấu và bỏ đánh dấu được sử dụng để phân loại và xác định. Sự khác biệt giữa chúng là bất cứ khi nào một tập hợp giá trị kiểm tra được sử dụng, việc sử dụng được kiểm tra xem nó phù hợp với các yêu cầu của tập giá trị, trong khi đó tập giá trị không đánh dấu không có quá trình kiểm tra.
 
Ứng dụng
 
UDDI cho phép các tổ chức chuẩn hóa cách thức tổ chức nghiệp vụ, tìm kiếm, tái sử dụng và quản lý dịch vụ Web của tổ chức. Đối với các nhà quản lý và người làm kiến trúc, UDDI cung cấp cơ chế chuẩn hóa cho việc tìm kiếm và chia sẻ giao diện dịch vụ Web trong nhóm phát triển. Đối với các chuyên gia công nghệ thông tin và người quản lý hệ thống, UDDI cung cấp cách thức quản lý tập trung dịch vụ Web khi triển khai dịch vụ Web. Hiện nay, UDDI là thành phần cần thiết trong bất kỳ cơ sở hạ tầng kiến trúc hướng dịch vụ nào (SOA)[1].
 
 Trong Thông tư số 22/2013/TT-BTTTT ngày 23/12/2013 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Công bố Danh mục tiêu chuẩn kỹ thuật về ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước quy định Bắt buộc áp dụng tiêu chuẩn UDDI v3 và được xếp vào nhóm Tiêu chuẩn về kết nối.
 
Tài liệu tham khảo
 
[1]. TechTarget, What role will UDDI play in Web services applications?
 
Trần Việt Cường, Cục Tin học hóa (aita.gov.vn)

Bài viết liên quan

Tiêu chuẩn kỹ thuật về ƯDCNTT trong CQNN: Tiêu chuẩn SSL – Giao thức an toàn tầng giao vận
Tiêu chuẩn kỹ thuật về ƯDCNTT trong CQNN: Tiêu chuẩn SOAP - Giao thức truy cập đối tượng đơn giản
Tiêu chuẩn kỹ thuật về ƯDCNTT trong CQNN: Tiêu chuẩn CSS – Giao thức định kiểu theo tầng

HUE IOC

Trung tâm Giám sát, điều hành đô thị thông minh thành phố Huế

Thông tin trung tâm
Địa chỉ: 36 Phạm Văn Đồng, phường Vỹ Dạ, thành phố Huế
Số điện thoại: 02343.896.555
Email: hueioc@hue.gov.vn
Theo dõi chúng tôi tại
Tải ứng dụng HUE-S

© Trung tâm Giám sát, điều hành đô thị thông minh thành phố Huế

Ghi nguồn từ https://dttm.hue.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này